1. Tấm bia đá Vũ Vu thiển thuyết 舞雩淺說 hiện đang được đặt, lưu trữ ở Từ đường họ Ninh - Ninh thị từ đường 寧氏祠堂 tại Côi Trì, Yên Mạc, Ninh Bình thực sự là một Di sản sách đá Việt Nam thế kỷ XVIII vì trên đó định bản một chuyên thư Nho học Việt Nam thế kỷ XVIII của Nho gia Ninh Tiến (1715-1781) - người được người đương thời đánh giá “cao như Thái Sơn”, “sáng như sao Bắc Đẩu” trong giới Nho học, Nho lâm Việt Nam thế kỷ XVIII. Bia đá đó được dựng năm Tân Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781), khá lớn về kích thước (khổ bia 1,20m x 1,60m), đẹp về phương diện trình bày (trang trí hoa văn và tự dạng chữ viết theo phong cách văn bia thời Lê Trung hưng).

PGS.TS Phạm Văn Khoái và Sư cô Thích Đức Nguyên bên tấm bia đá Vũ Vu thiển thuyết. (Điền dã ngày 02/04/2026 tại Từ đường họ Ninh ở Côi Trì)
2. Ninh Tiến (1715-1781), người Côi Trì, cha của Ninh Tốn. Ninh Tốn tiến triều năm Ất Mùi (1775), Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1778), Thiêm sai tri Binh phiên, Hành cơ mật sự, Quốc sử Quốc luật Toản tu, Đông các Đại học sĩ, Thự Hình bộ Tả Thị lang. Ninh Tiến được ấm phong chức Hàn Lâm viện Thị độc năm 1780 đã Vũ Vu thiển thuyết nhằm lưu lại cho đời những vấn đề về cái học tính lý. Ở một số tài liệu ghi ông là Ninh Ngạn nhưng ở đây tên ông được ghi theo văn bia thần đạo về ông: Dã Hiên tiên sinh mộ biểu 野軒先生墓表 (Biểu văn trên mộ tiên sinh Dã Hiên) do Tiến sĩ Vũ Huy Đĩnh soạn năm Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 42 (1781) đang được dựng tại Từ đường này. Văn bia đó có viết rằng: “公諱進字彦[1]號野軒、希曾居士、姓寧氏、安謨瑰池人。Công húy Tiến, tự Ngạn hiệu Dã Hiên, Hy Tăng cư sĩ, tính Ninh thị, Yên Mô Côi Trì nhân - Ông tên húy là Tiến, tên tự là Ngạn, hiệu là Dã Hiên, Hy Tăng cư sĩ, họ Ninh, người Côi Trì Yên Mô” thì húy (tên) của ông là Tiến. Gia phả họ Ninh ở đây cũng ghi ông húy Tiến. Còn “Ngạn” chính là tên tự của ông. Vậy đúng ra ông phải là Ninh Tiến. Không hiểu vì sao mà cứ quen gọi là Ninh Ngạn.
Ninh Tiến (1715-1781) sinh năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 11 (1715), mất năm Tân Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 42 (1781), 24 tuổi được tuyển vào trường Quốc học, 36 tuổi đỗ Hương cống khoa thi hương Canh Ngọ (1750). Năm 46 tuổi từng giữ chức Phó hiến sứ do có công tiễu phỉ ở Bồ Xuyên, theo học Tiến sĩ Tả Thị lang Vũ Công Trấn (1685-1755) ở Đôn Thư tiếp nhận kinh điển Nho học, nhưng sau 4 lần thi Hội bất lợi, ông bèn dứt ý cử nghiệp, tìm đến ẩn cư ở sườn núi Vũ Vu (xóm Vườn Vải, thôn Khê Hạ, xã Yên Đồng, Yên Mô, Ninh Bình), giảng cứu “những câu nói hay, những hạnh tốt đẹp” của các bậc hiền thánh khi xưa, coi thường thế lợi. Ý nghĩa của hai chữ “Vũ Vu舞雩” ta vừa có thể tìm thấy trong ý nghĩa từ vựng vốn có của nó là “một hình thức tế cầu mưa ở thời cổ khi bị hạn hán, vì trong tế lễ có nhạc và nhảy múa nên được gọi là Vũ Vu cũng như ý nghĩa sâu xa có trong thiên Tiên tiến của sách Luận ngữ mà theo đó, Tăng Điểm muốn “được tắm trên dòng sông Nghi, hóng mát trên đài Vũ Vu”, hàm ý của câu nói này là muốn nhằm đến cuộc sống an nhiên. Ở sườn núi Vũ Vu cũng là giảng đường Vũ Vu trong gần hai chục năm, học lực thuần thành, thức thú siêu nghệ, những gì gai góc trong học thuật, ông đều “nghiêng dao mà róc”, rồi ông mang những gì thu lượm được viết nên trước tác Vũ Vu thiển thuyết gồm 45 chương theo cái học tính lý. Đến lúc mất, ông “nằm ngay ngắn” tự coi cái chết của mình là sự đi về thế giới của các bậc đại Nho như Nhan, Tăng, Tư, Mạnh, Chu, Trình, Trương, Chu. [Nhan, tức Nhan Uyên, học trò giỏi của Khổng Tử, được tôn xưng là bậc Phục Thánh); Tăng (Tăng tử, tức Tăng Sâm, học trò giỏi của Khổng Tử, được tôn xưng là bậc Tông Thánh); Tư, tức Tử Tư, tức Khổng Cấp, cháu của Khổng Tử, được tôn xưng là bậc Thuật Thánh; Mạnh, tức Mạnh Tử, được tôn xưng là Á Thánh. Cả 4 vị đều được phối thờ trong Văn Miếu. Còn Chu, Trình, Trương, Chu là: Chu Đôn Di (1017-1073); Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107), Trương Tái (1020-1076), Chu Hy (1130-1200) đều là những đại Nho thuộc phái Lý học thời Tống]. Trước tác có tính tổng kết cho hai mươi năm “trầm tiềm”, “hàm dưỡng” cái học tính lý của Nho học Vũ Vu thiển thuyết của ông gồm hai thiên thượng hạ tuy được ông gọi là “thiển thuyết - bàn nông, bàn một cách nông cạn” ở trường Nho học Vũ Vu đã làm cho Ninh Tiến được người đương thời ca ngợi như Thái Sơn, Bắc Đẩu trong chốn Nho lâm đương thời, người có “khí vũ hiên ngang”, “nghị luận anh minh”, “tâm sự rạng ngời như bạch nhật”, “nghĩa khái vượt khỏi mây xanh” như Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754) Vũ Huy Đĩnh[2] (1730-1789) đã viết trong văn bia Dã Hiên tiên sinh mộ biểu.

Ngày 02/4/2026 các học viên của Nhân Mỹ học đường dập văn bia Vũ Vu thiển thuyết tại Từ đường chi thứ hai họ Ninh ở Côi Trì, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình để phổ biến tư liệu tại Hội thảo khoa học: Di sản văn hóa dòng họ Thượng thư Ninh Tốn (1744-1795), và công tác số hóa di sản.
3. Về phương diện bố cục, tổ chức và sắp đặt văn bản, sách Vũ Vu thiển thuyết có kết cấu 04 phần như sau: Lời dẫn; Đề từ; Nguyên thư; Bạt.
3.1. Lời dẫn cho việc khắc Vũ Vu thiển thuyết (Khắc Vũ Vu thiển thuyết dẫn刻舞雩淺說 引), dài 128 chữ Hán do Tiến sĩ Ninh Tốn viết nhằm giới thiệu về Ninh Tiến và bộ sách Vũ Vu thiển thuyết của ông. Lời dẫn đã nói rõ rằng: “Tiên sinh ra ở ẩn tại sườn núi Vũ Vu, học theo cái học tính lý. Tiên sinh lấy đạo thống làm nhiệm vụ của mình, trước tác Vũ Vu thiển thuyết thượng hạ hai thiên và Phong vịnh tập bốn quyển, cất giữ trong hòm sách... (...). Ninh Tốn tôi vâng theo di huấn, thẹn vì chưa làm theo hết được, nên đã chép đúng quyển sách đó vào đá, thuê thợ khắc sách, để cho con cháu cầu đạo học được biết”.
3.2. Đề từ cho Vũ Vu thiển thuyết cũng của Ninh Tốn gồm hơn 4 dòng dài 233 chữ mà theo đó nhấn mạnh rằng, Vũ Vu thiển thuyết là trước tác bàn về đạo thống: “Chỉ có đại nhân nhà ta, có phong tư cao vượt, giàu sang xem như cát bùn, giữ mình chẳng mòn chẳng đen[3], ẩn cư học đạo, tinh thần thuận, tấm lòng rộng mở, trầm tiềm hàm dưỡng, có đến trên hai chục năm. Những năm cuối đời siêu ngộ, đạo tích chứa trong thân mình. Mọi việc liên quan đến xử () sự, ứng vật, tất ắt ứng với đạo. Người trong họ hàng tông tộc, hương đảng xóm làng, đều cảm hóa theo đức của tiên sinh. Còn người ở các châu, quận xa xôi, không có ai không theo khuôn phép. Tiên sinh từng mang những gì mà mình sở đắc, viết sách, lập ngôn, đặt tên Thiển thuyết, lưu dạy cháu con. Tiên sinh có nói: “Ta cả cuộc đời, dốc sức học vào đây. Có thể làm theo lời ta, () cũng có thể không phải hổ thẹn”.

Thác bản bồi lụa tấm bia Vũ Vu thiển thuyết (thượng, hạ hai thiên) do bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (bút danh Như Như) thực hiện, hoàn thành ngày 11/4/2026 nhằm phổ biến tư liệu, phục vụ nghiên cứu và công tác bảo tồn di sản.
3.3. Nguyên văn Vũ Vu thiển thuyết
Nguyên văn Vũ Vu thiển thuyết (thượng, hạ hai thiên) gồm 45 chương với độ dài 2.200 chữ. Cách gọi “chương” như thế này ta có thể thấy được qua Đề từ của Ninh Tốn (45 chương) cũng như trong Dã Hiên tiên sinh mộ biểu (46 chương). Nói là chương nhưng thực tế trên bia không có một tên chương nào cả mà sự khác biệt giữa các chương chỉ được ghi bằng một cái khuyên tròn O. Đếm lại trên thực tế theo các khuyên tròn ấy thì được 45 chương, trong đó, Vũ Vu thiển thuyết thượng gồm 25 chương, Vũ Vu thiển thuyết hạ gồm 20 chương. Số lượng chữ trên đây (2.200 chữ) có thể xuất nhập một chút bởi có nhiều chữ trong đó bị đục do nhiều lý do, trong đó chủ yếu là do kiêng húy.
Trong bài viết “Hai tấm bia về Ninh Ngạn và cuốn Vũ Vu thiển thuyết của ông[4]” đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1 (1) năm 1986, tác giả Hoàng Lê là người đầu tiên viết về tác giả Ninh Ngạn và cuốn sách Vũ Vu thiển thuyết của ông. Từng chương trong 45 chương ấy đã được tác giả Hoàng Lê tóm lược và khái quát về mặt nội dung. Sau đó, cách tóm lược và khái quát này đã được nhiều nơi sử dụng nhưng nếu chỉ với những nội dung mang tính “xã hội” và “đạo đức” được khái quát như thế thì Ninh Tiến khó có thể được coi là “Thái Sơn”, “Bắc Đẩu”, người có “khí vũ hiên ngang”, “nghị luận anh minh”, “tâm sự rạng ngời như bạch nhật”, “nghĩa khái vượt khỏi mây xanh” như Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754) Vũ Huy Đĩnh (1730-1789) như đã được nhắc đến ở trên đây đã viết. Cái đã làm nên giá trị của Vũ Vu thiển thuyết chính là những vấn đề của cái học “tính lý性理” của Nho học mà Ninh Tiến đã bàn sâu về nó. Tính lý (còn gọi là tính học; đạo học) là cái học do các nhà Nho thời Tống (Tống Nho) như Chu Đôn Di (Liêm phái - Phái Liêm Khê), Trình Hạo, Trình Di (Lạc phái - phái Lạc Dương), Trương Tải (Quan phái - phái Quan Trung) và Chu Hy (Mân phái) đề xướng nhằm mang đến cho đạo Nho một cái học có tính triết học. Theo đó, lý là nguyên lý phổ quát, qui luật khách quan của vũ trụ, vạn vật, tồn tại trước và độc lập với con người. Lý mang tính. Tính tức là lý. Cái mà trời phú cho mọi vật gọi là tính mà tính ấy là tính thiện. Cái tính thiện có tính tiên thiên ấy bị vật dục che lấp. Là con người cần phải học tập để vãn hồi cái tính thiện tiên thiên ấy. Học tập, tư dưỡng nhằm tồn tâm dưỡng tính theo tinh thần của sách Trung Dung: “Thiên mệnh chi vị tính. Suất tính chi vị đạo. Tu đạo chi vị giáo - Cái trời phú cho gọi là tính. Noi theo tính gọi là đạo. Tu theo đạo gọi là giáo”. Bởi thế cho nên, bàn về nội dung của bộ sách này cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về sự thể hiện cái học tính lý ở đây mà trọng tâm là cái học tâm truyền, cái học nói về cái học đạo lý sâu xa liên quan đến các vấn đề của vũ trụ quan, nhân sinh quan nhằm “tồn tâm”, “dưỡng tính”, “át nhân dục”, tồn thiên lý”. Với Vũ Vu thiển thuyết, Ninh Tiến là một trong những tác giả Nho học nổi trội ở Việt Nam chuyên bàn về cái học tính lý, chuyên về tâm học cần phải được nhắc đến vì những trước tác có tính chuyên thư thể hiện mức độ “trầm tiềm”, “hàm dưỡng” như thế này có thể nói “thật là hiếm có” hay “có không nhiều” ở Việt Nam trong quá khứ.

PGS.TS Phạm Văn Khoái, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học - Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo tham luận với chủ đề Vũ Vu thiển thuyết 舞雩淺說 - Chuyên thư về Nho học tính lý ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII tại Hội thảo khoa học: Di sản văn hóa dòng họ Thượng thư Ninh Tốn (1744-1795) tổ chức tại chùa Yên Khoái Hạ, phường Đông Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình ngày 25/4/2026.
3.4. Lời Bạt cho Vũ Vu thiển thuyết舞雩淺說
Lời Bạt跋cho Vũ Vu thiển thuyết dài 241 chữ do Chu Doãn Lệ[5] - bạn đồng khoa với Ninh Tốn viết, trong đó nhấn mạnh tính chất “thuyết lý” trong cái học của Ninh Tiến khi ông tôn xưng Ninh Tiến với cách gọi tôn kính là “bá, ngô bá - bác, bác tôi, bác nhà”. Đó là cái học “thuyết lý” “nói gần mà chỉ xa” có trong Vũ Vu thiển thuyết. “Chưa từng có người nói gần mà chỉ xa, ngôn từ không phiền toái mà lý lại rất rõ như Vũ Vu thiển thuyết của bác nhà ở đây. Tri thức của bác nhà vượt xa, có chí đem thân gánh vác đạo thống. Ở phía Tây ấp, cách vài chục dặm, có sườn núi xưa gọi là Vũ Vu. Bác nhà đã làm giảng đường ở trên đó, làm nơi giảng học cầu đạo. Bác nhà từng đem những gì tâm mình sở đắc ra mà lập ngôn, () đặt tên là Thiển thuyết, mà gắn với tên sườn núi. Qua đó có thể thấy, bác nhà vui cái vui ở nơi sườn núi này”.
Như vậy, Vũ Vu thiển thuyết là một trước tác Nho học theo cái học tính lý hay Lý học ở Việt Nam của một nhà Nho đã dành hai mươi năm cho sự “trầm tiềm”, “hàm dưỡng” nhằm đề cập đến những vấn đề của đạo học mà trọng tâm là cái học tâm truyền, cái học nói về cái học đạo lý sâu xa liên quan đến các vấn đề của vũ trụ quan, nhân sinh cũng như các vấn đề về “tồn tâm”, “dưỡng tính”, “át nhân dục”, “tồn thiên lý” trong lịch sử học thuật triết học Việt Nam. Trước tác đó được người đương thời đánh giá cao, tác giả của nó được đề cao như là Thái Sơn, Bắc Đẩu. Trước tác đó lại được khắc trên đá nên thực sự đã trở thành Di sản và một Di sản Nho học chuyên bàn về cái học tính lý hay lý học của Nho gia có ý nghĩa triết học, học thuật cao cấp đến như thế cần được giới thiệu cho người đời nay được biết. Đó thực sự là một “báu vật ở chính trong nhà” không chỉ của riêng các thế hệ cháu con Ninh tộc (họ Ninh) mà còn là “báu vật ở chính trong nhà” mọi người Việt Nam nói chung. Đừng tìm “các báu vật ấy” ở những nơi xa xôi mà ở chính trong nhà chúng ta đấy./.
PGS.TS Phạm Văn Khoái, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo; bà Ninh Thị Kim Dung, pháp danh Thích Đức Nguyên, Giám đốc Chi nhánh tại Ninh Bình thuộc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo; Hậu duệ đời thứ mười sáu dòng họ Ninh ở Côi Trì, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình; ảnh: Bình Yên.
[1] 辶彦 (quai xước + chữ Ngạn).
[2] Vũ Huy Đĩnh 武輝 珽 (1730-1789), quê ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hải Dương (nay là xã Đường An, Hải Phòng). Ông tự là 溫奇 Ôn Kì, hiệu là 頤軒Di Hiên, thụy là 文忠Văn Trung. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Tuất (1754) triều vua Lê Hiển Tông. Làm quan trải nhiều chức. Ninh Tốn là học trò của ông.
[3] Lấy từ sách Luận ngữ: “Niết nhi bất truy, ma nhi bất lân. Dìm xuống bùn mà chẳng đen, mài mà chẳng mòn”
[4] Tạp chí Hán Nôm trực tuyến, https://hannom.vass.gov.vn/tc-han-nom-truc-tuyen, truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2026. Mọi trích dẫn từ bài viết này được thực hiện trên tài liệu trực tuyến này.
[5] Chu Doãn Lệ 朱允勵 (1740-?), quê thôn Phúc Hậu, xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc thành phố Hà Nội). Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng năm 39 (1778). Làm quan với nhà Lê Trung hưng đến chức Hàn lâm viện đãi chế, Quốc tử giám tùy giảng, Đông Các hiệu thư.









