Nước Việt ta từ xưa vốn trọng hiền tài. Mỗi thời loạn - trị, đều xuất hiện những bậc sĩ phu lấy văn chương làm gốc, lấy dân tộc làm trọng, lấy đạo nghĩa làm đầu.
Thượng thư Ninh Tốn - hiệu Chuyết Sơn, Khiêm Như, Mẫn Hiên - là một bậc danh sĩ cuối triều Lê đầu Tây Sơn, văn tài nổi sớm, khoa bảng hiển đạt, quan nghiệp trải nhiều biến động, nhưng tấm lòng vì dân vì nước vẫn sáng như sao trời.
Quê Côi Trì - Yên Mô vốn đất học lâu đời. Gia học hun đúc, sinh ra bậc hiền tài. Thơ văn để lại hàng trăm bài, phần nhiều thất lạc, nhưng tinh thần văn hiến vẫn còn lưu dấu trong sử sách và lòng dân.
40 bài thơ Tứ tuyệt dưới đây được chia thành 4 phần, mỗi phần 10 bài thơ, gồm: i) Quê hương - Gia thế; ii) Khoa cử - Học nghiệp; iii) Quan nghiệp - Thời cuộc; và, iv) Văn nghiệp - Hậu thế - Tên đường.

Các nhà khoa học cùng hậu duệ dòng họ Ninh ở Côi Trì. Nhà thờ họ Ninh được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia từ năm 1996.
I. Quê hương - Gia thế (1-10)
Bài 1
Côi Trì địa cổ phát hiền tài,
Sông núi nghìn thu dưỡng đức dày.
Gia học truyền đời hương Nho thịnh,
Danh thơ lưu dấu đến hôm nay.
Bài 2
Yên Mô đất học rạng văn phong,
Một mạch gia thanh tỏa núi sông.
Tổ đức bao đời nuôi chí lớn,
Sinh người danh sĩ giữa trời Đông.
Bài 3
Ninh Xá quê xưa gốc tổ truyền,
Bao đời tích đức vững gia điền.
Non sông hội tụ sinh nhân kiệt,
Để lại thanh danh tỏa sử biên.
Bài 4
Dã Hiên phong thái bậc cao nhân,
Ẩn học thanh tâm dưỡng khí chân.
Gia huấn truyền cho người chí lớn,
Nên danh sĩ tử rạng thanh vân.
Bài 5
Hiền mẫu nuôi con đức hạnh bền,
Gia phong lễ nghĩa vững căn nguyên.
Từ nền nhân đức sinh nhân kiệt,
Để lại thanh danh tỏa khắp miền.
Bài 6
Tuổi nhỏ thông minh sớm nổi danh,
Đèn khuya sách cũ dưỡng tinh anh.
Chí cao ôm ấp vì dân nước,
Một dạ trung trinh tỏ khí lành.
Bài 7
Gia tộc khoa danh nối tiếp hoài,
Hoàng giáp lưu phương rạng một thời.
Học mạch truyền sang người hậu duệ,
Văn phong rực sáng giữa muôn đời.
Bài 8
Cửa Nho sớm tối luyện tâm bền,
Mài bút rèn kinh vững chí hiền.
Một bước khoa danh vang đất Bắc,
Tên người lưu lại với sơn xuyên.
Bài 9
Đất cũ hồn xưa nuôi chí nhân,
Gia thanh vun đắp đức tinh thuần.
Sinh người hội đủ tài cùng hạnh,
Để lại hương danh sáng thế trần.
Bài 10
Sông núi quê nhà dưỡng chí trai,
Bao đời hun đúc giống hiền tài.
Sinh ra danh sĩ vì dân tộc,
Để lại non sông bóng dáng ai.

Ngày 24 tháng 01 năm 2026 điền dã về núi Chuyết Sơn xưa kia Thượng thư Ninh Tốn đặt tên và đề thơ lên vách núi.
II. Khoa cử - Học nghiệp (11-20)
Bài 11
Mười chín khoa Hương rạng bảng vàng,
Văn tài sớm tỏa khắp kinh bang.
Thăng Long đèn sách nuôi hoài bão,
Một bước khoa danh mở nghiệp sang.
Bài 12
Theo học danh sư luyện đạo Nho,
Văn chương sớm nổi giữa kinh đô.
Bạn hiền kết nghĩa cùng nghiên bút,
Để lại thanh danh rạng học đồ.
Bài 13
Hội nguyên bảng thắm rạng văn tài,
Một bước công danh mở vận thời.
Sử bút từ đây thêm rực rỡ,
Tên người lưu dấu đến muôn đời.
Bài 14
Kinh sử mài tâm dưỡng chí bền,
Đèn khuya bút sớm luyện tâm hiền.
Một đời gắn bó cùng văn hiến,
Để lại thi danh rạng sử biên.
Bài 15
Bằng hữu danh Nho kết chí bền,
Cùng nhau mài bút luyện tâm hiền.
Văn chương góp sức vì dân nước,
Lưu dấu thanh danh rạng sử biên.
Bài 16
Nghiên bút theo đời giữ đạo trung,
Văn tài sớm tỏa giữa non sông.
Một đời vì nước không phai chí,
Để lại thanh danh tỏa núi đồng.
Bài 17
Đèn sách Thăng Long dưỡng chí trai,
Bao năm kinh sử luyện nhân tài.
Một ngày bảng thắm vang thiên hạ,
Để lại non sông bóng dáng ai.
Bài 18
Học rộng tâm sâu sáng nghĩa nhân,
Văn chương sớm tỏa khắp xa gần.
Một đời nuôi chí vì dân tộc,
Lưu lại thi danh sáng thế trần.
Bài 19
Đạo học nuôi tâm dưỡng chí bền,
Văn tài tỏa sáng khắp ba miền.
Khoa danh mở lối vào thời cuộc,
Để lại thanh danh rạng tổ tiên.
Bài 20
Một thuở văn chương rạng đất trời,
Bảng vàng lưu dấu đến muôn đời.
Tài danh hội tụ cùng nhân nghĩa,
Để lại non sông bóng dáng người.

Các nhà nghiên cứu chụp hình lưu niệm cùng dòng họ Ninh ở Côi Trì, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (nay là xã Yên Nhân, tỉnh Ninh Bình)
III. Quan nghiệp - Thời cuộc (21-30)
Bài 21
Quan trường một thuở gánh non sông,
Giữ trọn lòng trung với núi sông.
Dẫu gặp phong ba thời loạn lạc,
Tâm son vẫn sáng giữa trời Đông.
Bài 22
Tờ khải vì dân dẹp nạn gian,
Ngăn bao tệ dịch khắp dân gian.
Một lòng thanh chính vì lê thứ,
Để lại danh thơm khắp nước Nam.
Bài 23
Theo giá bôn ba khắp núi ngàn,
Thi thành mạn hứng giữa giang san.
Một đời gắn bó cùng thời cuộc,
Để lại thi danh rạng nước Nam.
Bài 24
Tam Điệp non xanh dấu bước người,
Binh đao dâu bể khắp nơi nơi.
Thoát thân dân dã còn trung nghĩa,
Để lại thanh danh sáng muôn đời.
Bài 25
Thức thời giữ trọn tấm lòng trung,
Dẫu giữa phong ba vẫn thủy chung.
Một dạ vì dân không đổi chí,
Danh thơ còn sáng giữa non cùng.
Bài 26
Thời loạn nhân tài gánh nước non,
Giữ tâm thanh chính giữa héo hon.
Một đời trung nghĩa vì dân tộc,
Để lại thanh danh sáng núi sông.
Bài 27
Giữa cơn biến động giữ tâm bền,
Danh lợi không làm đổi chí hiền.
Một dạ vì dân cùng xã tắc,
Danh thơ còn tỏa sáng thiên niên.
Bài 28
Quan nghiệp thăng trầm theo vận nước,
Nhưng lòng trung nghĩa vẫn không phai.
Một dạ vì dân cùng xã tắc,
Danh thơ còn tỏa sáng muôn đời.
Bài 29
Một thuở theo thời giữ nghĩa nhân,
Không vì lợi lộc đổi tinh thần.
Bao năm cống hiến vì dân tộc,
Để lại thanh danh sáng thế trần.
Bài 30
Lịch sử sang trang giữa bão giông,
Nhân tài gánh vác việc non sông.
Một đời gắn bó cùng dân nước,
Để lại thanh danh rạng núi đồng.

Các học viên của Nhân Mỹ học đường bên thác bản tấm bia của hai nhà Nho Ninh Tiến và Ninh Ngạn hiện ở Từ đường họ Ninh
IV. Văn nghiệp - Hậu thế - Tên đường (31-40)
Bài 31
Chuyết Sơn thi tập sáng thi đàn,
Lưu lại văn chương giữa thế gian.
Hai bảy trăm (275) bài hồn nước Việt,
Ngàn thu còn tỏa giữa giang san.
Bài 32
Thi tập còn lưu mạch sử văn,
Hồn thơ tỏa sáng khắp xa gần.
Một đời gắn bó cùng văn hiến,
Để lại thanh danh sáng thế trần.
Bài 33
Hán Nôm lưu giữ bút thi gia,
Chứng tích văn chương với nước nhà.
Một mạch thi phong còn tỏa sáng,
Ngàn thu còn vọng khắp sơn hà.
Bài 34
Tên đường hôm nay tạc nhớ công,
Người xưa đức nghiệp sáng non sông.
Hậu thế noi theo gương nghĩa khí,
Ngàn năm còn tỏa ánh tinh trung.
Bài 35
Danh nhân văn hiến sáng quê hương,
Đức nghiệp lưu danh giữa phố phường.
Hậu thế muôn đời còn tưởng niệm,
Tên người còn tỏa ánh văn chương.
Bài 36
Hồn thi còn tỏa giữa nhân gian,
Chứng tích văn chương giữa nước Nam.
Một mạch thi phong còn bất diệt,
Ngàn thu còn sáng giữa giang san.
Bài 37
Chuyết Am thanh tĩnh dưỡng tâm hồn,
Giữ đạo thanh cao giữa thế tồn.
Một dạ vì dân không đổi chí,
Danh thơ còn sáng giữa văn môn.
Bài 38
Song Am tĩnh lặng giữ tâm thiền,
Danh lợi ngoài thân giữ chí hiền.
Một dạ thanh cao vì thế nước,
Danh thơ còn sáng giữa thiên niên.
Bài 39
Danh sĩ muôn đời sáng sử xanh,
Thi danh còn tỏa khắp trời thanh.
Một đời gắn bó cùng dân tộc,
Để lại non sông bóng dáng anh.
Bài 40
Ngàn thu tưởng nhớ bậc hiền tài,
Sử sách còn ghi bóng dáng ai.
Chuyết Sơn còn đó hồn dân tộc,
Văn hiến còn vang mãi đến nay.
***
Người xưa đã khuất, nhưng văn hiến còn.
Thơ có thể mất, nhưng khí tiết không mất.
Thượng thư Ninh Tốn sống giữa thời đại biến động lớn. Giữa vòng danh lợi - quyền lực - chiến tranh, ông vẫn giữ phẩm cách của người trí thức Nho gia: Học để giúp đời, Làm quan để giúp dân, Làm thơ để gửi chí.
Ngày nay, tên ông còn trên bia sách, trong thư tịch, trong tên đường, và trong ký ức văn hiến dân tộc./.
Hòa thượng Thích Tâm Vượng,
Ủy viên Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam;
PGĐ Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo.
Ảnh: Bình Yên,










